Top 3 bài phân tích 16 câu giữa bài Vội vàng

Phân tích 16 câu giữa bài Vội vã – Ví như 13 câu đầu bài Vội vã tác giả đã trình bày tình yêu cuộc sống mãnh liệt thì ở đoạn 2 bài Vội vã lại là sự xót xa ngùi ngùi của tác giả trước giới hạn của cuộc đời. Sau đây là dàn ý phân tách 16 câu giữa bài Vội vã cùng các bài văn mẫu phân tách đoạn 2 bài Vội vã, cảm nhận 16 câu giữa bài Vội vã siêu hay để các bạn thông suốt được tâm tình của tác giả gửi gắm qua bài thơ Vội vã.

1. Dàn ý Phân tích 16 câu giữa bài Vội vã

a) Mở bài

– Giới thiệu nói chung về tác giả Xuân Diệu và bài thơ Vội vã

– Dẫn dắt, giới thiệu 16 câu thơ giữa : Nếu phần đầu tiên của 3̀i thơ là ước muốn táo 3̣o cùng vẻ đẹp độc đáo của mùa xuân thì sang 16 câu thơ giữa, nhà thơ giải thích lí do phải sống vội vàng.

b) Thân bài

– Quan niệm về thời kì có nhiều cách nói. Xuân Diệu cũng có 1 cách nói rất riêng của thi sĩ: tương phản đối lập để chỉ ra 1 đời người chỉ có 1 tuổi xuân; tuổi xanh 1 đi ko quay về.

Xuân đương đến, tức là xuân đương qua,

Xuân còn non, tức là xuân sẽ già.

Nhưng xuân hết, tức là tôi cũng mất

=> Giọng thơ sôi nổi như nước tự mạch nguồn tuôn ra. 1 hệ thống tương phản đối lập: đến – qua, non – già, hết – mất, rộng – chật, tuần hoàn – bất phục hoàn, vô biên – hữu hạn – để khẳng định 1 chân lý – triết lý: tuổi xuân 1 đi ko quay về. Phcửa ải quý tuổi xuân.

– Cách nhìn nhận về thời kì cũng rất tinh tế, lạ mắt, mẫn cảm. Và mối tương giao nhiệm mầu của cảnh vật, của tạo vật dường như mang theo nỗi buồn chia lìa hoặc tiễn biệt, hờn vì cách biệt, sợ vì phai tàn sắp sửa.

Mùi tháng 5 đều rớm vị chia lìa

Khắp núi sông vẫn than thầm tiễn biệt.

– Cũng là gió, là chim… mà gió thì thào vì hờn, chim bỗng dừng hót, dừng rao vì sợ! Câu hỏi tu từ hiện ra cũng làm nổi trội nghịch lý giữa mùa xuân – tuổi xanh và thời kì:

Con gió xinh thì thào trong lá biếc

Phcửa ải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim rộn rã bỗng đứt tiếng reo thi

Phcửa ải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

– Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hóa làm nổi trội nỗi lòng vừa lo âu băn khoăn, vừa mất bình tĩnh tiếc rẻ, bâng khuâng:

Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…

=> Còn đang trong mùa xuân nhưng thi sĩ đã tưởng tượng ra sự chia phôi của vũ trụ, sự rời xa của mùa xuân. Nỗi niềm nhớ tiếc đã bật lên thành lời than và qua đấy thi sĩ cũng gửi gắm lời nhắn nhủ đến muôn người muôn lứa tuổi rằng hãy sống hết mình vì tuổi xanh, thời kì đời người là hữu hạn, 1 đi ko quay về.

c) Kết bài

Những vần thơ của Xuân Diệu giúp ta cảm nhận sắc điệu trữ tình trong Vội vã về màu thời kì, về sắc thời kì và tuổi xanh.

2. Phân tích 16 câu giữa bài Vội vã ngắn gọn

Thơ Xuân Diệu tinh tế, gợi cảm, lạ mắt trong chất liệu cũng như trong văn pháp thi ca. Nhắc tới ông, ta ko thể ko nhắc tới một 3̀i thơ in đậm dấu ấn và phong cách của ông: Vội vàng. Bài thơ vừa như 1 nguồn xúc cảm trào dâng vừa là tuyên ngôn sống của 1 thi sĩ khát khao yêu đời. Đặc thù, nếu phần đầu tiên của 3̀i thơ là ước muốn táo 3̣o cùng vẻ đẹp độc đáo của mùa xuân thì sang phần thơ thứ 2, nhà thơ đã trình bày quan niệm nhân sinh mới mẻ về thời kì và tuổi xanh.

Thời gian trong thơ ca trung đại là thời kì “tuần hoàn” tức là thời kì được tưởng tượng như 1 vòng tròn liên tiếp tái diễn, hết 1 vòng lại trở lại địa điểm xuất hành, cứ trở đi rồi quay về mãi mãi. Quan niệm này xuất hành từ cái nhìn “tĩnh”, lấy cả sinh mệnh vũ trụ để làm thước đo cho thời kì. Còn đối với Xuân Diệu, ông có quan niệm rất mới về thời gian:

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già,

Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.

Nếu người xưa luôn yên tâm bình thản trước sự trôi chảy của thời gian bởi họ quan niệm thời gian là tuần hoàn thì Xuân Diệu lại quan niệm thời gian, mùa xuân, tuôi trẻ một đi ko trở lại. Thế nên ông luôn hốt hoảng lo lắng lúc thời gian trôi mau. Điều thi sĩ sợ là tuổi trẻ qua đi, tuổi già mau tới bới thời gian như một dòng chảy mà mỗi một khoảnh khắc trôi qua là mất đi vĩnh viễn. Cách sử dụng cặp từ đối lập “tới – qua”, “non – già” đã cho thấy sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước bước đi của thời gian. Cùng với hàng loạt câu thơ văn xuôi theo lối định nghĩa cùng sự lặp lại liên tiếp điệp ngữ “nghĩa là”, Xuân Diệu đã khẳng định chắc nịch một sự thật hiển nhiên ko gì phủ nhận: Dù xuân đương tới, xuân còn non mà xuân sẽ qua, sẽ già, sẽ hết và tuổi trẻ cũng mất. Đối diện với sự thật hiển nhiên mà phũ phàng ấy, Xuân Diệu ko khỏi thảng thốt. Liên tiếp các dấu phẩy được huy động tạo nên điệu thơ ngậm ngùi, nghẹn ngào:

Lòng tôi rộng, mà lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của trần thế,

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tới nữa không hề rằng gặp lại.

Còn trời đất, mà chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

“Lòng tôi” và “lượng trời” vốn đã là 2 thế cực tương phản của sự hạn hữu và vô biên. Tuy nhiên trong góc nhìn của Xuân Diệu thì cái vốn hữu hạn như đời người lại được mở mang tới hết sức “lòng tôi rộng” còn thứ vốn tưởng chừng vô biên chỉ cần khoảng của đất trời lại phát triển thành bé nhỏ “lượng trời cứ chật”. 1 loạt hình ảnh được đặt trong thế tương phản đối lập cao độ “rộng” – “chật”, “xuân tuần hoàn” – “tuổi xanh chẳng 2 lần”, “còn” – “chẳng còn”. Điều đấy đã góp phần làm nổi trội tâm cảnh nuối tiếc trước thời kì, cuộc đời.

Sự hạn hữu của đời người với thời kì được trình bày rõ nét nhất ở dòng thơ “Còn trời đất mà chẳng còn tôi mãi”. Đúng vậy, giữa cái mênh mang của vũ trụ, vô cùng, vô tận của thời gian, tuổi trẻ, sự sống của con người bỗng trở nên quá ngắn ngủi. Nhưng ở đây, Xuân Diệu ko tiếc cho mình, tiếc cho tuổi xanh nhưng điều ông tiếc nhất chính “cả đất trời”.

Suy ngẫm về điều đó, Xuân Diệu càng cảm nhận thấm thía sự pha phôi, phai tàn đang âm thầm diễn ra trong lòng vũ trụ trên cả 2 trục ko gian và thời gian.

Mùi tháng 5 đều rớm vị chia lìa

Khắp núi sông vẫn than thầm tiễn biệt

Con gió xinh thì thào trong lá biếc

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi

Phải chăng sợ độ phai tàm sắp sửa.

Thời gian vốn vô hình, vô ảnh, ko mùi, ko vị, đi vào thơ Xuân Diệu bỗng có mùi, có vị chia lìa, nghe đâu khắp ko gian đâu đâu cũng vọng lên khúc chia phôi, lời than thầm tiễn biệt. Tựa như ta nghe thấy có chút gì xao xuyến rưng rưng vừa uất ức nghẹn ngào vừa nuối tiếc hụt hẫng trong từ “rớm” đấy.

Gió đùa trong lá ko phải là những âm thanh vui mừng, sống động của tự nhiên mà vì hờn tủi trước sự trôi chảy của thời gian. Chim hót những 3̉n nhạc chào xuân rộn ràng bỗng ngừng bặt, chẳng có mối nguy hiểm nào cả, mà vì chúng sợ độ tàn phai, héo úa. Vậy là vạn vật cứ thế chảy trôi theo quy luật vận hành thiên nhiên của nó nhưng ko sao cưỡng lại được.

Khép lại phần thơ là dòng thơ tràn ngập cảm xúc:

Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…

Đến đây thi sĩ đã vỡ lẽ chẳng bao giờ có thể tắt nắng buộc gió, níu giữ mãi tuổi trẻ mùa xuân ở lại. Phép điệp “chẳng bao giờ” được lặp lại 2 lần càng nhấn mạnh thêm tâm cảnh sững sờ nuối tiếc đấy. Khát vọng cháy bỏng, ước muốn táo 3̣o đã tan thành mây khói. Chỉ còn lại nỗi 3̀ng hoàng, thảng thốt nhưng càng phát triển thành da diết hơn với dấu chấm lửng cuối dòng thơ. Và trong sự bất lực, Xuân Diệu nghe đâu tìm ra 1 cách khắc phục:

“Mau đi thôi, mùa chưa ngả chiều hôm”

Lời thơ như 1 lời thúc giục, hối thúc con người hãy đứng lên đừng buồn vì sự chia phôi sẽ tới nhưng quên lãng đi thực tại. “Mau đi thôi”, mau nỗ lực trân trọng lấy từng khoảnh khắc hiện nay để hưởng thụ bữa tiệc tươi vui nhưng tự nhiên mùa xuân đã bày sẵn trước mắt ta.

Chỉ với 16 câu thơ mà nghe đâu Xuân Diệu đã cho ta thấy 1 quan niệm nhân sinh rất văn minh về thời kì, về mùa xuân và tuổi xanh của tác giả. Ta cũng nhìn thấy dù rằng Xuân Diệu trình bày tâm cảnh nhớ tiếc thời kì và cuộc đời mà qua đấy ta còn bắt gặp 1 khao khát mạnh bạo, 1 tình yêu đắm say nhưng ông dành cho đời.

3. Phân tích đoạn 2 bài Vội vã

Trong “Thi nhân Việt Nam”, nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng khẳng định: “Thơ Xuân Diệu là một nguồn sống dạt dào chưa từng có ở chố nước non lặng lẽ này.”. Nhắc tới Xuân Diệu, ta ko thể ko nhắc tới một 3̀i thơ in đậm dấu ấn, phong cách của ông – Vội vàng. Được rút ta từ tập “Thơ thơ”, “Vội vàng” là nỗi ám ảnh thời gian và lòng ham yêu, khát sống đến cuống quýt của Xuân Diệu. Nếu phần đầu tiên của 3̀i thơ là ước muốn táo 3̣o cùng vẻ đẹp độc đáo của mùa xuân thì sang phần thơ thứ 2, nhà thơ giải thích lí do phải sống vội vàng.

Tại sao Xuân Diệu lại vội vàng tiếc nuối mùa xuân ngay lúc xuân còn đang thắm. Có lẽ vì thi sĩ có quan niệm rất mới về thời gian:

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất

Lòng tôi rộng mà lượng trời cứ chật

Không cho dài thời trẻ của trần thế.

Nếu người xưa luôn yên tâm bình thản trước sự trôi chảy của thời gian bởi họ quan niệm thời gian là tuần hoàn thì Xuân Diệu lại quan niệm thời gian, mùa xuân, tuôi trẻ một đi ko trở lại. Thế nên Xuân Diệu luôn hốt hoảng lo lắng lúc thời gian trôi mau. Thi sĩ ko chỉ tiếc mùa, tháng, ngày mà tiếc từng khoảng khắc, từng phút giây. Ở một 3̀i thơ khác, nhà thơ cũng từng nói:

Tôi từ phút ấy trôi qua phút này

Diều thi sĩ sợ là tuổi trẻ qua đi, tuổi già mau tới bới thời gian như một dòng chảy mà mỗi một khoảnh khắc trôi qua là mất đi vĩnh viễn. Cách sử dụng cặp từ đối lập “tới – qua”, “non – già” đã cho thấy sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước bước đi của thời gian. Cùng với hàng loạt câu thơ văn xuôi theo lối định nghĩa cùng sự lặp lại liên tiếp điệp ngữ “nghĩa là”, Xuân Diệu đã khẳng định chắc nịch một sự thật hiển nhiên ko gì phủ nhận: Dù xuân đương tới, xuân còn non mà xuân sẽ qua, sẽ già, sẽ hết và tuổi trẻ cũng mất. Đối diện với sự thật hiển nhiên mà phũ phàng ấy, Xuân Diệu ko khỏi thảng thốt. Liên tiếp các dấu phẩy được huy động tạo nên điệu thơ ngậm ngùi, nghẹn ngào.

Để tăng sức thuyết phục mọi người tin vào chân lí: mùa xuân tuổi trẻ là tuyến tính, Xuân Diệu đã chủ động đối thoại, tranh luận 3́c bỏ ý nghĩ cố hữu của mọi người là mùa xuân vẫn tuần hoàn:

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng 2 lần thắm lại

Với Xuân Diệu, tuổi trẻ ko thắm lại nên cũng ko thể nói mùa xuân là tuần hoàn. Thế là Xuân Diệu tiếc mùa xuân mà thực chất là tiếc tuổi trẻ. Và đó là nguyên cớ xâu xa khiến thi sĩ vội vàng một nửa lúc xuân mới bắt đầu:

Còn trời đất mà chẳng còn tôi mãi

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời

Đúng vậy, giữa cái mênh mang của vũ trụ, vô cùng, vô tận của thời gian, tuổi trẻ, sự sống của con người bỗng trở nên quá ngắn ngủi, mỏng manh chỉ như bóng câu qua cửa sổ, như cái chớp mà thôi. Suy ngẫm về điều đó, day dứt về điều đó, Xuân Diệu đã đem đến một nỗi ngậm ngùi mà mới mẻ trong thơ ca Việt

“Với quan niệm một đi ko trở lại và bằng tâm hồn rất đỗi nhạy cảm tới mức có thể nghe thấu cả sự mơ hầu” (Thế Lữ), Xuân Diệu cảm nhận thấm thía sự pha phôi, phai tàn đang âm thầm diễn ra trong lòng vũ trụ trên cả 2 trục ko gian và thời gian.

Mùi tháng 5 đều rớm vị chia lìa

Khắp núi sông vẫn than thầm tiễn biệt

Con gió xinh thì thào trong lá biếc

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi

Phải chăng sợ độ phai tàm sắp sửa.

Thời gian thì rớm vị chia lìa, khắp ko gian đâu đâu cũng vọng lên khúc chia phôi, lời than thầm tiễn biệt. Gió đùa trong lá ko phải là những âm than vui mừng, sống động của thiên nhiêm mà vì hờn tủi trước sự trôi chảy của thời gian. Chim hót những 3̉n nhạc chào xuân rộn ràng bỗng ngừng bặt, chẳng có mối nguy hiểm hiểm nào cả, mà vì chúng sợ độ tàn phai, héo úa. Vậy là vạn vật ko thể cưỡng lại quy luật tàn phai nghiệt ngã của tạo hóa. Chịu ảnh hưởng sâu sắc thuyết tương giao trong tượng trưng Phá, Xuân Diệu chẳng những đã đem đến những cảm nhận tinh tế rất mới, rất Tây, rất hiện đại về thời gian:

Mùi tháng 5 đều rớm vị chia lìa.

Thời gian vốn vô hình, vô ảnh, ko mùi, ko vị, đi vào thơ Xuân Diệu bỗng có mùi, có vị chia lìa. Thơ trung đại, kể cả thơ mới cũng hiếm có câu thơ nào có cách cảm nhận như vậy.

Khép lại phần thơ thứ nhất – phần lí giải vì sao phải sống vội vàng là dòng thơ tràn ngập cảm xúc:

Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…

Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm

Đến đây thi sĩ đã vỡ lẽ chẳng bao giờ có thể tắt nắng buộc gió, níu giữ mãi tuổi trẻ mùa xuân ở lại. Khát vọng cháy bỏng, ước muốn táo 3̣o đã tan thành mấy khói. chỉ còn lại nỗi 3̀ng hoàng, thảng thốt còn in dấu trong dấu chấm cảm giữa dòng thơ và dấu chấm lửng cuối dòng thơ. Không thể buộc gió, chẳng thể tắt nắng để níu giữ mãi hương sắc mùa xuân, Xuân Diệu đã hối thúc mình và mọi người hãy sống vội vàng, hãy chạy đua cùng thời gian: “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm.” Lời giục giã hối thúc mang sắc điệu mạnh mẽ, quyết liệt bởi kiểu câu cầu khiến có sử dụng dấu chấm cảm giữa dòng. Có thể nói câu thơ “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm” rẩt điển hình, tiêu biêu cho hồn thơ vội vàng cuống quýt của Xuân Diệu trước cách mạng tháng 8. Không chỉ ở “Vội vàng”, Xuân Diệu luôn hối thúc giục giã mọi người cần sống mau, sống vội:

Mau với chứ! Thời gian ko đứng đợi

– Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai

Đời trôi chảy lòng ta ko vĩnh viễn

– Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ

Em, em ơi tình non sắp già rồi!

“Mùa chưa ngả chiều hôm” là một cách kết hợp từ mới lạ, thú vị. Xuân Diệu đã dùng từ chỉ thời gian cuối ngày để chỉ thời điểm cuối mùa. “Mùa chưa ngả chiều hôm” là mùa chưa tàn, chưa úa, vì thế hãy vội vàng mau chóng tận hưởng hương sắc của nó.

Có thể thấy, Xuân Diệu có cách cảm nhận về thời gian khác lạ như vậy là nhờ vào “sự ý thức sâu xa về sự sống của cá thể”. Quan niệm mới mẻ ấy của Xuân Diệu đã khiến cho ta phải trâng trọng từng phút giây của cuộc đời, tận hưởng một cuộc sống trọn vẹn và đầy ý nghĩa. Quan đoạn thơ, ta đã thấy được niềm khát khao sống mãnh liệt, cháy bỏng của ông Hoàng thơ tình Việt nam. Từ đó, chúng ta thêm trân trọng quan niệm nhân sinh, tích cực, tiến bộ. Cũng như giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh từng nói: “Đây là ngôn ngữ của 1 tâm hồn yêu đời, yêu sống tới cuồng nhiệt. Nhưng đằng sau những tình cảm đấy, có 1 quan niệm nhân sinh mới mẻ chưa thấy trong thơ ca truyền thống”.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin có lợi khác trên phân mục Tài liệu của Du Học Mỹ Âu VN.


Thông tin thêm về Top 3 bài phân tích 16 câu giữa bài Vội vàng

Phân tích 16 câu giữa bài Vội vã – Ví như 13 câu đầu bài Vội vã tác giả đã trình bày tình yêu cuộc sống mãnh liệt thì ở đoạn 2 bài Vội vã lại là sự xót xa ngùi ngùi của tác giả trước giới hạn của cuộc đời. Sau đây là dàn ý phân tách 16 câu giữa bài Vội vã cùng các bài văn mẫu phân tách đoạn 2 bài Vội vã, cảm nhận 16 câu giữa bài Vội vã siêu hay để các bạn thông suốt được tâm tình của tác giả gửi gắm qua bài thơ Vội vã.
1. Dàn ý Phân tích 16 câu giữa bài Vội vã
a) Mở bài
– Giới thiệu nói chung về tác giả Xuân Diệu và bài thơ Vội vã
– Dẫn dắt, giới thiệu 16 câu thơ giữa : Nếu phần đầu tiên của 3̀i thơ là ước muốn táo 3̣o cùng vẻ đẹp độc đáo của mùa xuân thì sang 16 câu thơ giữa, nhà thơ giải thích lí do phải sống vội vàng.
b) Thân bài
– Quan niệm về thời kì có nhiều cách nói. Xuân Diệu cũng có 1 cách nói rất riêng của thi sĩ: tương phản đối lập để chỉ ra 1 đời người chỉ có 1 tuổi xuân; tuổi xanh 1 đi ko quay về.
Xuân đương đến, tức là xuân đương qua,
Xuân còn non, tức là xuân sẽ già.
Nhưng xuân hết, tức là tôi cũng mất
=> Giọng thơ sôi nổi như nước tự mạch nguồn tuôn ra. 1 hệ thống tương phản đối lập: đến – qua, non – già, hết – mất, rộng – chật, tuần hoàn – bất phục hoàn, vô biên – hữu hạn – để khẳng định 1 chân lý – triết lý: tuổi xuân 1 đi ko quay về. Phcửa ải quý tuổi xuân.
– Cách nhìn nhận về thời kì cũng rất tinh tế, lạ mắt, mẫn cảm. Và mối tương giao nhiệm mầu của cảnh vật, của tạo vật dường như mang theo nỗi buồn chia lìa hoặc tiễn biệt, hờn vì cách biệt, sợ vì phai tàn sắp sửa.
Mùi tháng 5 đều rớm vị chia lìa
Khắp núi sông vẫn than thầm tiễn biệt.
– Cũng là gió, là chim… mà gió thì thào vì hờn, chim bỗng dừng hót, dừng rao vì sợ! Câu hỏi tu từ hiện ra cũng làm nổi trội nghịch lý giữa mùa xuân – tuổi xanh và thời kì:
Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phcửa ải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn rã bỗng đứt tiếng reo thi
Phcửa ải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
– Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hóa làm nổi trội nỗi lòng vừa lo âu băn khoăn, vừa mất bình tĩnh tiếc rẻ, bâng khuâng:
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…
=> Còn đang trong mùa xuân nhưng thi sĩ đã tưởng tượng ra sự chia phôi của vũ trụ, sự rời xa của mùa xuân. Nỗi niềm nhớ tiếc đã bật lên thành lời than và qua đấy thi sĩ cũng gửi gắm lời nhắn nhủ đến muôn người muôn lứa tuổi rằng hãy sống hết mình vì tuổi xanh, thời kì đời người là hữu hạn, 1 đi ko quay về.
c) Kết bài
Những vần thơ của Xuân Diệu giúp ta cảm nhận sắc điệu trữ tình trong Vội vã về màu thời kì, về sắc thời kì và tuổi xanh.
2. Phân tích 16 câu giữa bài Vội vã ngắn gọn
Thơ Xuân Diệu tinh tế, gợi cảm, lạ mắt trong chất liệu cũng như trong văn pháp thi ca. Nhắc tới ông, ta ko thể ko nhắc tới một 3̀i thơ in đậm dấu ấn và phong cách của ông: Vội vàng. Bài thơ vừa như 1 nguồn xúc cảm trào dâng vừa là tuyên ngôn sống của 1 thi sĩ khát khao yêu đời. Đặc thù, nếu phần đầu tiên của 3̀i thơ là ước muốn táo 3̣o cùng vẻ đẹp độc đáo của mùa xuân thì sang phần thơ thứ 2, nhà thơ đã trình bày quan niệm nhân sinh mới mẻ về thời kì và tuổi xanh.
Thời gian trong thơ ca trung đại là thời kì “tuần hoàn” tức là thời kì được tưởng tượng như 1 vòng tròn liên tiếp tái diễn, hết 1 vòng lại trở lại địa điểm xuất hành, cứ trở đi rồi quay về mãi mãi. Quan niệm này xuất hành từ cái nhìn “tĩnh”, lấy cả sinh mệnh vũ trụ để làm thước đo cho thời kì. Còn đối với Xuân Diệu, ông có quan niệm rất mới về thời gian:
Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Nếu người xưa luôn yên tâm bình thản trước sự trôi chảy của thời gian bởi họ quan niệm thời gian là tuần hoàn thì Xuân Diệu lại quan niệm thời gian, mùa xuân, tuôi trẻ một đi ko trở lại. Thế nên ông luôn hốt hoảng lo lắng lúc thời gian trôi mau. Điều thi sĩ sợ là tuổi trẻ qua đi, tuổi già mau tới bới thời gian như một dòng chảy mà mỗi một khoảnh khắc trôi qua là mất đi vĩnh viễn. Cách sử dụng cặp từ đối lập “tới – qua”, “non – già” đã cho thấy sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước bước đi của thời gian. Cùng với hàng loạt câu thơ văn xuôi theo lối định nghĩa cùng sự lặp lại liên tiếp điệp ngữ “nghĩa là”, Xuân Diệu đã khẳng định chắc nịch một sự thật hiển nhiên ko gì phủ nhận: Dù xuân đương tới, xuân còn non mà xuân sẽ qua, sẽ già, sẽ hết và tuổi trẻ cũng mất. Đối diện với sự thật hiển nhiên mà phũ phàng ấy, Xuân Diệu ko khỏi thảng thốt. Liên tiếp các dấu phẩy được huy động tạo nên điệu thơ ngậm ngùi, nghẹn ngào:
Lòng tôi rộng, mà lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của trần thế,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tới nữa không hề rằng gặp lại.
Còn trời đất, mà chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
“Lòng tôi” và “lượng trời” vốn đã là 2 thế cực tương phản của sự hạn hữu và vô biên. Tuy nhiên trong góc nhìn của Xuân Diệu thì cái vốn hữu hạn như đời người lại được mở mang tới hết sức “lòng tôi rộng” còn thứ vốn tưởng chừng vô biên chỉ cần khoảng của đất trời lại phát triển thành bé nhỏ “lượng trời cứ chật”. 1 loạt hình ảnh được đặt trong thế tương phản đối lập cao độ “rộng” – “chật”, “xuân tuần hoàn” – “tuổi xanh chẳng 2 lần”, “còn” – “chẳng còn”. Điều đấy đã góp phần làm nổi trội tâm cảnh nuối tiếc trước thời kì, cuộc đời.
Sự hạn hữu của đời người với thời kì được trình bày rõ nét nhất ở dòng thơ “Còn trời đất mà chẳng còn tôi mãi”. Đúng vậy, giữa cái mênh mang của vũ trụ, vô cùng, vô tận của thời gian, tuổi trẻ, sự sống của con người bỗng trở nên quá ngắn ngủi. Nhưng ở đây, Xuân Diệu ko tiếc cho mình, tiếc cho tuổi xanh nhưng điều ông tiếc nhất chính “cả đất trời”.
Suy ngẫm về điều đó, Xuân Diệu càng cảm nhận thấm thía sự pha phôi, phai tàn đang âm thầm diễn ra trong lòng vũ trụ trên cả 2 trục ko gian và thời gian.
Mùi tháng 5 đều rớm vị chia lìa
Khắp núi sông vẫn than thầm tiễn biệt
Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàm sắp sửa.
Thời gian vốn vô hình, vô ảnh, ko mùi, ko vị, đi vào thơ Xuân Diệu bỗng có mùi, có vị chia lìa, nghe đâu khắp ko gian đâu đâu cũng vọng lên khúc chia phôi, lời than thầm tiễn biệt. Tựa như ta nghe thấy có chút gì xao xuyến rưng rưng vừa uất ức nghẹn ngào vừa nuối tiếc hụt hẫng trong từ “rớm” đấy.
Gió đùa trong lá ko phải là những âm thanh vui mừng, sống động của tự nhiên mà vì hờn tủi trước sự trôi chảy của thời gian. Chim hót những 3̉n nhạc chào xuân rộn ràng bỗng ngừng bặt, chẳng có mối nguy hiểm nào cả, mà vì chúng sợ độ tàn phai, héo úa. Vậy là vạn vật cứ thế chảy trôi theo quy luật vận hành thiên nhiên của nó nhưng ko sao cưỡng lại được.
Khép lại phần thơ là dòng thơ tràn ngập cảm xúc:
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…
Đến đây thi sĩ đã vỡ lẽ chẳng bao giờ có thể tắt nắng buộc gió, níu giữ mãi tuổi trẻ mùa xuân ở lại. Phép điệp “chẳng bao giờ” được lặp lại 2 lần càng nhấn mạnh thêm tâm cảnh sững sờ nuối tiếc đấy. Khát vọng cháy bỏng, ước muốn táo 3̣o đã tan thành mây khói. Chỉ còn lại nỗi 3̀ng hoàng, thảng thốt nhưng càng phát triển thành da diết hơn với dấu chấm lửng cuối dòng thơ. Và trong sự bất lực, Xuân Diệu nghe đâu tìm ra 1 cách khắc phục:
“Mau đi thôi, mùa chưa ngả chiều hôm”
Lời thơ như 1 lời thúc giục, hối thúc con người hãy đứng lên đừng buồn vì sự chia phôi sẽ tới nhưng quên lãng đi thực tại. “Mau đi thôi”, mau nỗ lực trân trọng lấy từng khoảnh khắc hiện nay để hưởng thụ bữa tiệc tươi vui nhưng tự nhiên mùa xuân đã bày sẵn trước mắt ta.
Chỉ với 16 câu thơ mà nghe đâu Xuân Diệu đã cho ta thấy 1 quan niệm nhân sinh rất văn minh về thời kì, về mùa xuân và tuổi xanh của tác giả. Ta cũng nhìn thấy dù rằng Xuân Diệu trình bày tâm cảnh nhớ tiếc thời kì và cuộc đời mà qua đấy ta còn bắt gặp 1 khao khát mạnh bạo, 1 tình yêu đắm say nhưng ông dành cho đời.
3. Phân tích đoạn 2 bài Vội vã
Trong “Thi nhân Việt Nam”, nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng khẳng định: “Thơ Xuân Diệu là một nguồn sống dạt dào chưa từng có ở chố nước non lặng lẽ này.”. Nhắc tới Xuân Diệu, ta ko thể ko nhắc tới một 3̀i thơ in đậm dấu ấn, phong cách của ông – Vội vàng. Được rút ta từ tập “Thơ thơ”, “Vội vàng” là nỗi ám ảnh thời gian và lòng ham yêu, khát sống đến cuống quýt của Xuân Diệu. Nếu phần đầu tiên của 3̀i thơ là ước muốn táo 3̣o cùng vẻ đẹp độc đáo của mùa xuân thì sang phần thơ thứ 2, nhà thơ giải thích lí do phải sống vội vàng.
Tại sao Xuân Diệu lại vội vàng tiếc nuối mùa xuân ngay lúc xuân còn đang thắm. Có lẽ vì thi sĩ có quan niệm rất mới về thời gian:
Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng mà lượng trời cứ chật
Không cho dài thời trẻ của trần thế.
Nếu người xưa luôn yên tâm bình thản trước sự trôi chảy của thời gian bởi họ quan niệm thời gian là tuần hoàn thì Xuân Diệu lại quan niệm thời gian, mùa xuân, tuôi trẻ một đi ko trở lại. Thế nên Xuân Diệu luôn hốt hoảng lo lắng lúc thời gian trôi mau. Thi sĩ ko chỉ tiếc mùa, tháng, ngày mà tiếc từng khoảng khắc, từng phút giây. Ở một 3̀i thơ khác, nhà thơ cũng từng nói:
Tôi từ phút ấy trôi qua phút này
Diều thi sĩ sợ là tuổi trẻ qua đi, tuổi già mau tới bới thời gian như một dòng chảy mà mỗi một khoảnh khắc trôi qua là mất đi vĩnh viễn. Cách sử dụng cặp từ đối lập “tới – qua”, “non – già” đã cho thấy sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước bước đi của thời gian. Cùng với hàng loạt câu thơ văn xuôi theo lối định nghĩa cùng sự lặp lại liên tiếp điệp ngữ “nghĩa là”, Xuân Diệu đã khẳng định chắc nịch một sự thật hiển nhiên ko gì phủ nhận: Dù xuân đương tới, xuân còn non mà xuân sẽ qua, sẽ già, sẽ hết và tuổi trẻ cũng mất. Đối diện với sự thật hiển nhiên mà phũ phàng ấy, Xuân Diệu ko khỏi thảng thốt. Liên tiếp các dấu phẩy được huy động tạo nên điệu thơ ngậm ngùi, nghẹn ngào.
Để tăng sức thuyết phục mọi người tin vào chân lí: mùa xuân tuổi trẻ là tuyến tính, Xuân Diệu đã chủ động đối thoại, tranh luận 3́c bỏ ý nghĩ cố hữu của mọi người là mùa xuân vẫn tuần hoàn:
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng 2 lần thắm lại
Với Xuân Diệu, tuổi trẻ ko thắm lại nên cũng ko thể nói mùa xuân là tuần hoàn. Thế là Xuân Diệu tiếc mùa xuân mà thực chất là tiếc tuổi trẻ. Và đó là nguyên cớ xâu xa khiến thi sĩ vội vàng một nửa lúc xuân mới bắt đầu:
Còn trời đất mà chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời
Đúng vậy, giữa cái mênh mang của vũ trụ, vô cùng, vô tận của thời gian, tuổi trẻ, sự sống của con người bỗng trở nên quá ngắn ngủi, mỏng manh chỉ như bóng câu qua cửa sổ, như cái chớp mà thôi. Suy ngẫm về điều đó, day dứt về điều đó, Xuân Diệu đã đem đến một nỗi ngậm ngùi mà mới mẻ trong thơ ca Việt
“Với quan niệm một đi ko trở lại và bằng tâm hồn rất đỗi nhạy cảm tới mức có thể nghe thấu cả sự mơ hầu” (Thế Lữ), Xuân Diệu cảm nhận thấm thía sự pha phôi, phai tàn đang âm thầm diễn ra trong lòng vũ trụ trên cả 2 trục ko gian và thời gian.
Mùi tháng 5 đều rớm vị chia lìa
Khắp núi sông vẫn than thầm tiễn biệt
Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàm sắp sửa.
Thời gian thì rớm vị chia lìa, khắp ko gian đâu đâu cũng vọng lên khúc chia phôi, lời than thầm tiễn biệt. Gió đùa trong lá ko phải là những âm than vui mừng, sống động của thiên nhiêm mà vì hờn tủi trước sự trôi chảy của thời gian. Chim hót những 3̉n nhạc chào xuân rộn ràng bỗng ngừng bặt, chẳng có mối nguy hiểm hiểm nào cả, mà vì chúng sợ độ tàn phai, héo úa. Vậy là vạn vật ko thể cưỡng lại quy luật tàn phai nghiệt ngã của tạo hóa. Chịu ảnh hưởng sâu sắc thuyết tương giao trong tượng trưng Phá, Xuân Diệu chẳng những đã đem đến những cảm nhận tinh tế rất mới, rất Tây, rất hiện đại về thời gian:
Mùi tháng 5 đều rớm vị chia lìa.
Thời gian vốn vô hình, vô ảnh, ko mùi, ko vị, đi vào thơ Xuân Diệu bỗng có mùi, có vị chia lìa. Thơ trung đại, kể cả thơ mới cũng hiếm có câu thơ nào có cách cảm nhận như vậy.
Khép lại phần thơ thứ nhất – phần lí giải vì sao phải sống vội vàng là dòng thơ tràn ngập cảm xúc:
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…
Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm
Đến đây thi sĩ đã vỡ lẽ chẳng bao giờ có thể tắt nắng buộc gió, níu giữ mãi tuổi trẻ mùa xuân ở lại. Khát vọng cháy bỏng, ước muốn táo 3̣o đã tan thành mấy khói. chỉ còn lại nỗi 3̀ng hoàng, thảng thốt còn in dấu trong dấu chấm cảm giữa dòng thơ và dấu chấm lửng cuối dòng thơ. Không thể buộc gió, chẳng thể tắt nắng để níu giữ mãi hương sắc mùa xuân, Xuân Diệu đã hối thúc mình và mọi người hãy sống vội vàng, hãy chạy đua cùng thời gian: “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm.” Lời giục giã hối thúc mang sắc điệu mạnh mẽ, quyết liệt bởi kiểu câu cầu khiến có sử dụng dấu chấm cảm giữa dòng. Có thể nói câu thơ “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm” rẩt điển hình, tiêu biêu cho hồn thơ vội vàng cuống quýt của Xuân Diệu trước cách mạng tháng 8. Không chỉ ở “Vội vàng”, Xuân Diệu luôn hối thúc giục giã mọi người cần sống mau, sống vội:
Mau với chứ! Thời gian ko đứng đợi
– Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai
Đời trôi chảy lòng ta ko vĩnh viễn
– Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ
Em, em ơi tình non sắp già rồi!
“Mùa chưa ngả chiều hôm” là một cách kết hợp từ mới lạ, thú vị. Xuân Diệu đã dùng từ chỉ thời gian cuối ngày để chỉ thời điểm cuối mùa. “Mùa chưa ngả chiều hôm” là mùa chưa tàn, chưa úa, vì thế hãy vội vàng mau chóng tận hưởng hương sắc của nó.
Có thể thấy, Xuân Diệu có cách cảm nhận về thời gian khác lạ như vậy là nhờ vào “sự ý thức sâu xa về sự sống của cá thể”. Quan niệm mới mẻ ấy của Xuân Diệu đã khiến cho ta phải trâng trọng từng phút giây của cuộc đời, tận hưởng một cuộc sống trọn vẹn và đầy ý nghĩa. Quan đoạn thơ, ta đã thấy được niềm khát khao sống mãnh liệt, cháy bỏng của ông Hoàng thơ tình Việt nam. Từ đó, chúng ta thêm trân trọng quan niệm nhân sinh, tích cực, tiến bộ. Cũng như giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh từng nói: “Đây là ngôn ngữ của 1 tâm hồn yêu đời, yêu sống tới cuồng nhiệt. Nhưng đằng sau những tình cảm đấy, có 1 quan niệm nhân sinh mới mẻ chưa thấy trong thơ ca truyền thống”.
Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin có lợi khác trên phân mục Tài liệu của Du Học Mỹ Âu VN.

Tagshọc tập

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Top #bài #phân #tích #câu #giữa #bài #Vội #vàng


  • Du Học Mỹ Âu
  • #Top #bài #phân #tích #câu #giữa #bài #Vội #vàng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button